29/4/17

Tháng tư thảm họa - Formosa món nợ phải đòi

Người Đưa Tin (Danlambao) - Ngày 30.04.1975 không chỉ là thảm họa đối với người miền Nam. Còn là sự khởi đầu thảm họa trên khắp đất nước, mốc thời gian không thể quên cho dân tộc Việt - Nam đã bị đảng cộng sản tước đoạt quyền làm người. Cả nước đã bị thống nhất bằng sự thống khổ nhục nhằn, bằng nghèo đói, trộn lẫn với máu và nước mắt của người dân ba miền Bắc - Trung - Nam vì cuộc chiến phi nghĩa được chủ xướng từ cộng sản Bắc Việt. Người dân đã thật sự bị cộng sản "giải phóng" khỏi tự do no ấm, phú cường và văn minh đích thực, một thời từng là mơ ước của Singapore. Thay vào đó bằng bạo quyền, cai trị trên nòng súng, đàn áp bằng khói cay, đánh đập bằng dùi cui, roi điện và khủng bố bằng nhà tù, triệt đường sinh sống của bất kỳ ai dám nói thẳng, nói thật, khi cộng sản muốn bịt miệng ngôn luận.

Người dân không có quyền được nói bất cứ điều gì trái ngược với chủ trương, đường lối từ sự áp đặt của chế độ độc tài toàn trị, cường quyền muốn người dân phải nói theo ý đảng. Không được thấy điều cộng sản không cho phép thấy, không được nói sự thật dù ai cũng biết đó là sự thật. Thứ "tự do" duy nhất dành cho người dân là tha hồ tung hê lãnh tụ, ca ngợi đảng cộng sản quang vinh, là đất nước dân chủ công bằng, văn minh, là nơi hạnh phúc đáng sống nhất thế giới (!?) trong khi ai cũng thấy, cũng biết người dân không ngừng chạy trốn cộng sản từ Hiệp định Genève. (1954) ngày chia đôi đất nước, từ 30.04.1975 cho đến tận bây giờ. Một chế độ mà người dân luôn tìm đường thoát thân. Đó không còn là một đất nước đúng nghĩa để nói về chủ quyền quốc gia. Nó như trại súc vật cộng sản, mà ông chủ đích thực của nó không phải cộng sản Bắc Việt. Người nắm quyền sinh sát VN chính là Trung cộng. Thứ gọi là bộ chính trị, các ủy viên trung ương đảng cộng sản chỉ là bầy thái thú không hơn kém. Đứng đầu là Nguyễn phú Trọng.

Không cần học cao hiểu rộng mới hiểu hai chữ cách mạng là gì, không cần phải mài đến rách đủng quần nơi lớp học mới biết thế nào là giải phóng. Cách mạng là xóa bỏ cái cũ không hay, để thay vào đó điều tốt đẹp hơn, giải phóng là đánh đuổi điều tồi tệ mà người dân bị buộc phải hứng chịu, mang đến cho dân sự công bằng và trên hết là quyền tự do ứng cử, bầu cử qua lá phiếu minh bạch, được bảo vệ bởi tam quyền phân lập. Điều đó, chính thể Việt - Nam Cộng - Hòa đã thực hiện tương đối khá thành công, giúp miền Nam phát triển vượt trội, so với các nước láng giềng nói riêng và khu vực Châu Á nói chung trước 1975. Đó là nhờ chính thể miền Nam biết xem trọng dân quyền, chiêu hiền đãi sĩ, kêu gọi người cộng sản lầm đường lạc lối trở về với chính nghĩa quốc gia, họ không nuôi lòng thù hận, họ sử dụng bài Quốc ca do chính người cộng sản sáng tác "Việt - Nam không đòi xương máu, Việt - Nam kêu gọi thương nhau". 

Lòng bao dung của chính thể Việt - Nam Cộng - Hòa là điều không thể phủ nhận. Giả như họ cũng tàn ác như cộng sản Bắc Việt, thì thứ gọi là mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (MTDTGPMN) gọi nôm na là VC nằm vùng, không còn cơ hội sống sót để sám hối cho hành động sai lầm không thể sửa chữa, khi nhận ra mặt thật của cộng sản Bắc Việt. Điển hình như bác sĩ Dương Quỳnh Hoa. Điệp viên Phạm Xuân Ẩn. Phi công Nguyễn Thành Trung. Sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm. Lê Hiếu Đằng. Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận v.v... Gọi lớp người trên là ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, thiển nghĩ không có gì là quá đáng. Mẫu số chung của họ là sám hối từ giường chết, sự khôn ngoan cuối cùng của đời người chỉ có lợi cho họ, bởi có thể mang đến sự thanh thản nửa vời trước lúc vĩnh biệt cõi đời. Những trí thức được chính thể miền Nam cưu mang đã chối bỏ sự trọng dụng, họ đã tự đẩy họ vào hoàn cảnh cho người ta đánh từ hai phía của bên thắng và thua cuộc, họ bị khai tử ngay khi còn sống và có lẽ đó là thất bại lớn nhất của tầng lớp trí thức thân bại danh liệt. Hãy nói khi còn có thể, hãy sám hối khi còn hưởng bổng lộc tanh máu đồng bào, bao giờ cũng giá trị hơn tiếng tru cuối cùng.

Tháng tư, bây giờ và mãi mãi là ngày quốc hận, tháng tư còn là ngày quốc tang vì hàng triệu nạn nhân miền Nam đã chết dưới sự trả thù hèn hạ của cộng sản Bắc Việt, hơn nửa triệu người vĩnh viễn chìm xuống lòng đại dương trên đường tìm tự do. Tháng tư quốc tang cho cả người anh em miền Bắc lầm đường lạc lối, cầm súng cho cộng sản Bắc Việt giết hại chính đồng bào cùng tiếng nói, cùng máu đỏ da vàng đã bỏ thây trên rừng Trường Sơn. Một nén nhang lòng cho những nạn nhân cộng sản, cho người anh em sinh Bắc tử Nam, chết mất xác trong vô vọng bởi thứ lý tưởng hão huyền.

Tháng tư, 42 năm, người miền Nam nỗi hận chưa nguôi không phải vì muốn ôm hận. Sự thù hận Bắc Nam ngày càng được đào sâu hơn, được nuôi dưỡng không từ phía nạn nhân mà từ kẻ thủ ác, từ những ngược đãi cả những người đã chết hơn bốn mươi năm qua, bằng hành động tàn phá mồ mả, cô lập, cầm tù 20 ngàn tử sĩ QLVNCH vị quốc vong thân nơi nghĩa trang quân đội tại Biên Hòa. Bằng sự kỳ thị hèn hạ ngoài sức tưởng tượng của con người. Thủ phạm không ai khác chính là đảng cộng sản với nền văn minh lộn ngược, luôn mồm kêu gọi HHHG với giọng kẻ cả. Phải biết xin lỗi người dân miền Nam và cả nước nói chung, kể từ cộng sản cướp chính phủ Trần Trong Kim. 

Tháng tư, xin tự nguyện chít khăn tang cho đất nước tôi đã và đang bị cộng sản Bắc Việt tạm chiếm hơn bốn thập niên qua. Xin được chít khăn tang cho những Anh Linh Tử Sĩ đã bỏ mình trong cuộc chiến chống cộng sản Bắc Việt xâm lược. Xin được chít khăn tang thương tiếc Ngũ Hổ Tướng đã tuẫn tiết để bào toàn danh dự QLVNCH. Và, xin được cùng Anh Chị sinh viên du học tại Pháp 42 năm trước chít vành khăn tang cho Ngày Quốc Hận. 

Paris. Đại lộ Gay Lussac, 3 giờ chiều ngày 27 tháng 4, 1975, sinh viên các đại học Paris, đại học Orsey đeo tang diễu hành... Việt Nam mất vào tay cộng sản 3 ngày sau đó. (Ảnh RFA)

Tháng tư biển chết

Một năm đã trôi qua. Thảm họa Formosa vẫn chưa được nhóm cầm quyền cộng sản (NCQCS) giải quyết dứt điểm. Ngư dân bốn tỉnh miền Trung vẫn khốn cùng ngay trên chính mảnh đất bao đời sống bằng nghề biển. Số tiền bồi thường của Formosa người dân sống được bao lâu so với thời gian cần đến những 50 năm biển mới có thể phục hồi? Chưa nói đến hàng loạt ao hồ, sông suối, cá cũng chết hàng loạt đáng báo động. NCQCS đã bỏ mặc ngư dân ta thán. Họ xuống đường biểu tình đòi quyền lợi là chính đáng cũng bị đàn áp bởi chính đạo quân kiêu binh sống bằng chính tiền thuế của người dân. Tội ác chất chồng tội ác, kẻ thủ ác tiếp tục được bao che bởi kẻ cầm quyền hành ác. Báo đài cộng sản mở hết công suất để bôi nhọ, vu khống các linh mục hướng dẫn người dân xuống đường biểu tình ôn hòa, chụp cho họ cái mũ nhận tiền của thế lực thù địch nhằm lấp liếm tội ác của Formosa. 

Thảm họa Formosa vẫn còn đó, biển chờ chết thêm lần nữa. Quan chức cộng sản thi nhau bảo vệ Formosa bằng luận cứ hết sức phi lý. Câu hỏi đặt ra là Formosa có thật mang lại nguồn lợi cho đất nước như cộng sản rêu rao? Và, nguồn lợi Formosa dù có to lớn đến đâu, có đáng để NCQCS xem trọng hơn sự tồn vong của cả dân tộc? Có lý do để nghi ngờ Formosa là công cụ của Trung cộng, nhằm diệt chủng dân tộc VN với chất thải cực độc. Theo báo cộng sản trong nước, một trong ba chất thải do Formosa thải ra biển là Cyanua. Chính sự mập mờ bao che tội ác của Formosa, lấp liếm sự thật để NCQCS tiếp tay cho Formosa đầu độc người VN, có thể xem đó là hành động phản quốc. Hoàn toàn ngược với cộng sản tuyên truyền "nhà nước do dân và vì dân". Bản chất bịp bợm, nói một đàng làm một nẻo của cộng sản, chứng minh lời nói của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn đúng theo thời gian "Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm".

Vì sự sống còn của dân tộc Việt - Nam, thường dân chúng tôi khẩn thiết kêu gọi, hiền tài nhân sĩ trong và ngoài nước, các lãnh đạo tinh thần tôn giáo, tiếp tục hướng dẫn người dân trên khắp cả nước xuống đường biểu tình tranh đấu cho đến khi Formosa phải cút khỏi Việt - Nam. Vì sức khỏe, tương lai tuổi trẻ Việt - Nam. Vì không cam tâm nhìn thế hệ tiếp nối với thể xác mang đầy bệnh tật bởi chất độc có xuất xứ từ Trung cộng đã tràn ngập khắp cả nước, vì không thể khoanh tay ngồi nhìn Trung cộng dùng thủ đoạn thâm độc diệt chủng dân tộc Việt - Nam với sự tiếp tay của NCQCS. Chuyện của người Việt - Nam phải tự giải quyết lấy. Không thể trông chờ lòng nhân đạo của thế giới bên ngoài. Phải chống hành động giết người của Formosa dù có phải trả bằng giá máu. Cho dù chỉ có một mình, nếu cần hiến mạng sống để đánh động lương tri loài người văn minh. Chúng tôi xin cam kết tự nguyện chết để người Việt - Nam thoát khỏi đại họa đến từ phương Bắc. Kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt - Nam. 

30/4/2017


_______________________________________

Tham khảo:

- Vì sao người Việt vẫn bỏ nước ra đi? Hòa Ái, phóng viên RFA

- Nhìn lại cuộc di cư 1954-1955. Tác giả Nguyễn Văn Lục

- Bầu cử thời VNCH

- Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa 1956 

- Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967 

- Những Người Trở Về Với Đại Gia Đình Dân Tộc. Tác giả Đỗ Hữu Long

- Hồ Ngọc Nhuận: Một mình chống hai chế độ.Hồ Ngọc Nhuận: Một mình chống hai chế độ. Mặc Lâm, biên tập viên RFA

- Một bài học: BS Dương Quỳnh Hoa. Tác giả Tiến sĩ Mai Thanh Truyết

- Nhìn lại nền Giáo dục VNCH : Sự tiếc nuối vô bờ bến. Tác giả Huỳnh Minh Tú

- Tại sao Quốc Ca VNCH lại là một bài hát của một Đảng viên CS ? Tác giả Bạch Diện Thư Sinh

- “Xin đừng chôn tôi gần cộng sản!” . Tác giả David DeVoss (Weekly Standard 9/10/2006) Volume 012, Issue 04 — Trà Mi lược dịch

- Đại tá Nguyễn Thành Trung: Vợ con tôi 'sẽ không bị đối xử một cách tàn nhẫn'

- Hồi ức 30/4 của người Việt tại Âu Châu. Tường An, thông tín viên RFA, Paris
2015-03-17

- Những Vị Tướng VNCH đã Tự Sát 30/04/1975

- Hận Thù Nam Bắc. Tác giả Trọng Đạt

- Bộ trưởng Trần Hồng Hà: Formosa phải xem môi trường Việt Nam như Đài Loan

- Formosa: Cú lừa vĩ đại của Ba Đình và thủ đoạn thâm độc của Bắc Kinh

- Gạo hỗ trợ ngư dân mốc xanh, gà chó cũng không thèm ăn

- Các hóa chất trong nước thải của Formosa độc hại ra sao?

- 50 năm mới khôi phục hoàn toàn hệ sinh thái biển miền Trung

Ngày 30 Tháng Tư

Phạm Đình Trọng (Danlambao) - Từ mấy năm nay, cứ gần đến ngày 30 tháng tư tôi đều phải rời căn hộ dịu mát, thoáng đãng, từ đó phóng tầm mắt ôm được cả một khoảng rộng Sài Gòn bừng sáng những tòa tháp cao tầng như những tòa ánh sáng. Từ mấy năm nay, cứ đến gần ngày 30 tháng tư tôi lại phải rời bỏ nếp sinh hoạt ổn định hàng ngày rồi hấp tấp khăn gói lưu vong khỏi Sài Gòn. Từ nhiều năm nay cứ đến ngày 29, 30 tháng tư cả đám an ninh cộng sản lại đến bủa vây quanh nơi tôi ở. Tôi phải lưu vong mấy ngày đó để thoát khỏi sự giam hãm.

Những ngày cả Sài Gòn giăng cờ, kết hoa, rực rỡ đèn đuốc chào mừng ngày 30 tháng tư được những người cộng sản gọi là ngày giải phóng miền Nam thì an ninh cộng sản lại đến giam cầm tôi ngay giữa “Sài Gòn giải phóng”.

Vậy thực sự ngày 30 tháng tư, năm 1975 có phải là ngày nửa dải đất phía Nam của tổ quốc Việt Nam được giải phóng không?

Giải phóng đích thực, giải phóng có giá trị lớn lao, thiết thực nhất phải là giải phóng con người, giải phóng tư duy, giải phóng sự sáng tạo của con người và giải phóng sức phát triển của xã hội.

Ngày 30 tháng tư năm 1975 cả triệu người Việt Nam dù yêu nước cháy bỏng cũng phải bỏ nhà cửa, bỏ tài sản, bỏ cả mồ mả ông bà, bỏ nước ra đi trốn chạy những người nhân danh là người yêu nước nhưng chỉ biết có ý thức hệ cộng sản, trốn chạy những người mang chuyên chính vô sản sắt máu vay mượn từ nước ngoài về nô dịch cả dân tộc. Ngày 30 tháng tư năm 1975 mang đến mất mát uất hận lớn như vậy cho cả triệu người Việt Nam làm sao có thể gọi là ngày giải phóng!

Với biến cố 30 tháng tư năm 1975, hàng trăm ngàn người dân miền Nam trở thành người tù trong những trại tập trung cải tạo, hàng triệu người thân của họ phải bỏ nhà cửa êm ấm, bỏ cuộc sống đầy đủ tiện nghi, lếch thếch đi lưu đày nơi đầu rừng cuối bãi hoang vu, khắc nghiệt với cái tên trá hình là đi xây dựng khu kinh tế mới.

Với biến cố 30 tháng tư năm 1975, nền công nghiệp non trẻ nhưng hiện đại, đầy sức sống và đang phát triển mạnh mẽ của miền Nam bị đánh sập. Những người chủ tài năng đã dựng nên cơ nghiệp cho gia đình, tạo ra nền công nghiệp tươi sáng cho đất nước phải giao nhà máy cho nhà nước cộng sản, giao tài sản mồ hôi nước mắt cho những cán bộ vô sản không có kiến thức kinh tế, không biết quản lí, điều hành sản xuất. Từ đó nhà máy hoạt động không hiệu quả, kinh doanh thua lỗ, sản xuất đình đốn, công nhân thất nghiệp. Sự dốt nát và vô trách nhiệm của những ông chủ vô sản đã tàn phá, xóa sổ cả một nền công nghiệp hiện đại đầy triển vọng rực rỡ của miền Nam.

Từ biến cố 30 tháng tư năm 1975, người kinh doanh lớn không được hoạt động. Chỉ còn những người buôn bán cò con, mua đầu chợ bán cuối chợ. Không còn kinh tế thị trường, chỉ còn nền kinh tế tự cấp tự túc từ thời mông muội xa xưa. Nghề thủ công và nghề làm ruộng cần sự cần cù, chịu thương chịu khó và sự sáng tạo cùng kinh nghiệm cá nhân thì hai nghề này phải vào hợp tác xã, chịu sự quản lí của cán bộ cộng sản quan liêu, tham nhũng và thành quả lao động bị mang chia đều, bình quân, làm cho người sản xuất không còn gắn bó với công việc, không còn cần đến sự cần cù, sáng tạo nữa. Miền Nam từ vựa lúa xuất khẩu gạo nay chính người làm ra hạt gạo cũng không có đủ gạo ăn. Người làm ra hạt gạo còn đói thì cả nước đương nhiên phải đói.

Từ biến cố 30 tháng tư năm 1975, con người miền Nam bị quản lí theo chế độ nô dịch, nền sản xuất miền Nam bị tàn phá và kìm hãm thì không thể coi ngày 30 tháng tư là ngày giải phóng miền Nam.

Ngày 30 tháng tư hàng năm, tôi cùng hàng ngàn người Việt Nam nói tiếng nói trung thực đòi tự do dân chủ, đòi những giá trị làm người đã bị bộ máy công cụ bạo lực nhà nước cộng sản Việt Nam đến bủa vây, giam cầm tại nhà thì ngày 30 tháng tư càng không thể là ngày giải phóng.

Ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối ư? Đất nước thống nhất trước hết phải thống nhất trong lòng người. Từ 30 tháng tư năm 1975, người Việt Nam bị chia rẽ đau đớn và sâu sắc nhất chưa từng có trong lịch sử hiển hách bốn ngàn năm dựng nước của dân tộc Việt Nam. 

Ngay cả thời Pháp đô hộ Việt Nam với chính sách chia để trị, Pháp chia đất nước Việt Nam thành ba kì với ba chế độ chính trị khác nhau thì người Việt Nam ở Bắc Kì và người Việt Nam ở Nam kì vẫn thương yêu đùm bọc nhau trong tình cảm đồng bào ruột thịt. Câu ca dao thương yêu của ông bà từ ngàn xưa để lại vẫn được cả người Bắc Kì lẫn người Nam Kì mang ra dạy bảo con cháu: Nhiễu điều phủ lấy giá gương / Người trong một nước phải thương nhau cùng. 

Từ khi đảng cộng sản Việt Nam ra đời, văn hóa yêu thương của ông bà để lại đã bị thay thế bằng văn hóa hận thù. Dân tộc Việt Nam yêu thương bị phân chia thành giai cấp đối kháng, phân chia thành trận tuyến ta - địch. Người dân bị đẩy vào cuộc đấu tranh giai cấp giả tạo mà đẫm máu và triền miên. Người dân nói tiếng nói yêu nước thương nòi mà động chạm đến tội của đảng cộng sản làm mất đất đai tổ tiên, động chạm đến tội của đảng cộng sản tước đoạt những giá trị làm người của người dân liền bị đảng cộng sản cầm quyền đẩy sang thế lực thù địch. 

Pháp đô hộ chia nước ta thành ba kì chỉ là vạch ranh giới trong không gian, chia địa lí hành chính trên giấy tờ. Đảng cộng sản chia dân tộc Việt Nam thành giai cấp đối kháng là chia rẽ trong lòng dân tộc, chia rẽ, li tán trong lòng người. Đặc biệt từ 30 tháng tư năm 1975 sự chia rẽ này càng độc ác, man rợ khi chuyên chính vô sản, hận thù giai cấp đã ào ạt, quyết liệt tước đoạt tự do, tước đoạt mạng sống của hàng triệu người dân miền Nam ở tầng lớp tinh hoa, những trí thức, những nhà chính trị, những quan chức nhà nước và sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Từ 30 tháng tư năm 1975, chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp đã làm cho người Việt hận thù người Việt sâu sắc, hàng triệu người Việt yêu nước thương nòi bị đẩy sang thế lực thù địch và hàng triệu người Việt yêu nước phải bỏ nước ra đi đã coi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày quốc hận thì làm sao có thể coi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày thống nhất lòng người.

Chia rẽ, li tán làm cho dân tộc Việt Nam suy yếu. Kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam là nhà cầm quyền bành trướng Đại Hán liền nhân cơ hội cướp hàng ngàn kilomet vuông đất biên cương của Việt Nam, cướp cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thì không thể coi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày thống nhất đất nước, giang sơn thu về một mối như sự khoa trương, lấp liếm của bộ máy tuyên truyền nhà nước cổng sản Việt Nam.

Ngày 30 tháng tư hàng năm những người cộng sản Việt Nam vui mừng vì ngày đó năm 1975 họ đã đánh thắng cả dân tộc Việt Nam, đã nô dịch được cả dân tộc Việt Nam, họ đã mang hận thù giai cấp đánh tan tác, li tán cả dân tộc Việt Nam. Còn những người Việt Nam chân chính phải nhận lấy nỗi buồn lịch sử, phải nhận lấy trách nhiệm lịch sử: Đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi nô dịch cộng sản và giành lại những mảnh đất thiêng liêng của tổ tiên người Việt đã bị mất mát, sang nhượng cho bành trướng Đại Hán dưới thời cộng sản. 

29.04.2017 

Ông chủ thực sự của Novaland là ai?

Nhóm Công Lý - Ai cũng đã biết, Phan Văn Anh Vũ, hư truyền Vũ nhôm là sĩ quan tình báo hay gọi là “tình báo viên” với biệt danh “AV75”, thuộc biên chế Cục B61, còn gọi là Cục Tình báo Bất hợp pháp, Tổng cục V, Bộ Công an với quân hàm Thượng tá.

Quá khứ của tình báo viên AV75 có nhiều điểm lạ, ngày 23/2/2011, khi mới khởi nghiệp, Vũ nhôm sử dụng tên anh trai là Phan Văn Anh Quốc để ký hợp đồng nhận chuyển nhượng hai lô đất tại Khu đô thị mới Hòa Hải 1-3, tổng diện tích 120 nghìn m2 với giá trị chuyển nhượng trên 1.083 tỷ đồng của công ty cổ phần đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà Sudico. Ông Nguyễn Văn Tiến sinh năm 1969, người được ủy quyền để thực hiện thương vụ giao dịch đã tố cáo đến cơ quan chức năng việc bị Vũ nhôm lừa đảo, chiếm đoạt 30 tỷ đồng từ thương vụ trên, tuy nhiên vụ việc được chuyển thành “tranh chấp dân sự” và khi báo chí vào cuộc chỉ được Công an Đà Nẵng trả lời “vụ việc đang trong quá trình điều tra”, đến nay vẫn chưa có kết luận chính thức.

Tình báo viên AV75 đi đâu cũng dằn lên mặt bàn đối tác 
tấm thẻ công an kèm theo khẩu súng ngắn CZ 92

Chưa hết, trong bản thông báo mà Thanh tra Chính phủ công khai ngày 17/01/2013 về việc quản lý, sử dụng đất tại thành phố Đà Nẵng cũng nêu rõ về một sai phạm khác liên quan trực tiếp đến Vũ nhôm: “Khu đất phía Nam cuối đường Phạm Văn Đồng. Năm 2006, UBND thành phố chuyển nhượng cho ông Hoàng Hải và bà Trung Thị Lâm Ngọc, với tổng giá trị hợp đồng là 84 tỷ đồng. Đến năm 2008, ông Hải và bà Ngọc không triển khai thực hiện dự án, đã ủy quyền cho ông Phan Văn Anh Vũ chuyển nhượng cho ông Phạm Đăng Quan với giá chuyển nhượng là 581 tỷ đồng, thu chênh lệch 495 tỷ đồng. Năm 2009, ông Phạm Đăng Quan lại tiếp tục chuyển nhượng cho Công ty Cổ phần Đầu tư địa ốc ô tô Phương Trang với giá là 585 tỷ đồng. Hiện trạng khu đất vẫn bỏ trống, chưa được đầu tư”. Tuy nhiên, chính quyền Đà Nẵng cho rằng Phan Văn Anh Vũ chỉ là “người đứng ra” chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hải, bà Ngọc theo hợp đồng ủy quyền nên không liên quan đến sai phạm trên.

Thế mà đến nay, chỉ bằng tấm thẻ công an và khẩu CZ 92 cùng với pháp nhân của hàng tá doanh nghiệp được dán mác “bình phong” của Tổng cục Tình báo Việt Nam (công ty cổ phần Xây dựng Bắc Nam 79, công ty Cổ phần Nova Bắc Nam 79, công ty TNHH I.V.C, công ty TNHH Minh Hưng Phát, công ty Cổ phần Xây Dựng 79, công ty Cổ phần Đầu tư Nhất Gia Phúc, công ty Cổ phần Bất động sản Lighthouse Tuyên Sơn, công ty TNHH Đầu tư Memory…), tình báo viên AV75 đã được chính quyền địa phương, đặc biệt là Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh dành cho nhiều ưu đãi theo tiêu chuẩn an ninh, quốc phòng. Chưa hết, tình báo viên AV75 đã phối kết hợp cùng tình báo viên NQ82 (Bùi Cao Nhật Quân - đại thiếu gia của Novaland, người đang nổi đình nổi đám với biệt danh “new sex idol”) để tạo thành “nhóm lợi ích”, tiến hành thâu tóm dồn dập các dự án kinh tế, đặc biệt là bất động sản và tài chính, ngân hàng khiến giới đầu tư tài chính phải than trời về việc tổ hợp này “ăn hết phần của chó”. Trong đó phải kể đến việc cướp trắng hàng loạt các khu đất vàng và những thương vụ thâu tóm đình đám: Seaprodex, Saigon Bank, Đông Á Bank…. May mà phi vụ “làm thịt Sacombank” gần đây của AV75 và NQ82 bị Chính phủ bác bỏ! 

Các tình báo viên AV75 và NQ82 của Tổng cục Tình báo Việt Nam

Dù các doanh nghiệp “bình phong” thường xuyên thua lỗ, nhưng tài sản của cặp tình báo viên AV75 và NQ82 lại ngày một lớn, mà khó có thể thống kê hết được. Ước tính, chỉ riêng mảng bất động sản, tài sản của AV75 Vũ nhôm đã lên tới cả trăm nghìn tỷ đồng, chưa kể những tài sản dưới dạng cổ phần, tiền mặt và các tài sản cá nhân khác, còn NQ82 Quân Novaland thì lọt vào Top 10 người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam. 

*

Giải mã bí ẩn thân thế của đại thiếu gia tập đoàn Novaland

Hiện nay cư dân mạng đang loạn cào cào vì scandal ảnh sex của Bùi Cao Nhật Quân, đại thiếu gia của tập đoàn Novaland - ông trùm thị trường bất động sản. Nhắc đến Novaland ai cũng biết tập đoàn này đang nổi đình nổi đám với các phi vụ chiếm lĩnh hầu hết những khu đất vàng ở trung tâm Sài Gòn, Đà Nẵng, vừa lên sàn đã đưa ông chủ Bùi Thành Nhơn và đại thiếu gia Bùi Cao Nhật Quân leo lên top những người giàu nhất trên sàn chứng khoán. Tại sao một tập đoàn ngấp nghé bờ vực phá sản vào giai đoạn thị trường bất động sản đóng băng vào cuối năm 2008 lại “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” và trở thành một đế chế như hiện nay? 

Bùi Thành Nhơn (trái) và Bùi Cao Nhật Quân (cầm phone)
 chuẩn bị khởi công một dự án bất động sản mới của Novaland

Bức màn nhung sẽ từ từ hé mở, bắt đầu bằng việc chúng ta cùng phân tích một văn bản đóng dấu “TUYỆT MẬT” của Tổng cục V, Bộ Công An Việt Nam.

Văn bản số 1590/BC-B11-B61 của Tổng cục Tình báo, 
Bộ Công An Việt Nam (Trung tướng Phan Hữu Tuấn, 
Phó Tổng cục trưởng ký gửi Thứ trưởng Trần Việt Tân)

Văn bản trên với bút phê “Đồng ý” của Thứ trưởng Trần Việt Tân đã quyết định số phận của Khách sạn Continental nằm ngay trung tâm Sài Gòn đã được bán “chỉ định” cho một doanh nghiệp có tên hơi lai căng là “Công ty cổ phần Nova Bắc Nam 79” là “công ty bình phong của Tổng cục Tình báo”. Văn bản trên cũng đề cập đến một biệt danh “AV75”, theo tìm hiểu được biết đây là bí số tình báo viên của Tổng cục Tình báo và “AV75” không ai khác ngoài Phan Văn Anh Vũ (Chủ tịch HĐQT công ty Xây dựng Bắc Nam 79, mà thiên hạ hay gọi là “Vũ nhôm”).

​Khách sạn Continental ngay trung tâm Sài Gòn giờ 
đã là “khách sạn bình phong” của Tổng cục Tình báo Việt Nam!

Tới đây độc giả có thể liên tưởng trong cái tên “Nova Bắc Nam 79” mang ý nghĩa gì, vâng, đó là kết quả chung cuộc của liên minh ma quỷ mà Phan Văn Anh Vũ và Bùi Cao Nhật Quân là những nhân vật chính, sự thành lập công ty này cũng đánh dấu một giai đoạn mới đầy hoành tráng của Novaland sau giai đoạn được “cứu rỗi”.

Tìm hiểu thêm về công ty “bình phong” Nova Bắc Nam 79, được biết công ty này được thành lập ngày 22/04/2015 với vốn điều lệ chỉ có 6 tỷ đồng do “liên minh” Novaland và Bắc Nam 79 thành lập - Phan Văn Anh Vũ làm Chủ tịch HĐQT.


Ngày 23/4/2015, Bùi Cao Nhật Quân được Phan Văn Anh Vũ 
bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc củacông ty bình phong của Tổng cục V


Đến tháng 06/2016, công ty bình phong “Nova Bắc Nam 79” 
được đăng ký thay đổi lần thứ 5 với vốn 206 tỷ đồng và 
Bùi Cao Nhật Quân làm Tổng giám đốc, đại diện pháp luật.

Đến đây độc giả đã rõ, nhân vật “new idol” đang gây sóng gió trên mạng bằng những hình ảnh ăn chơi đàn điếm: Bùi Cao Nhật Quân, thiếu gia của tập đoàn Novaland cũng là “tình báo viên” của Tổng cục Tình báo Việt Nam, là đàn em của “tình báo viên” Phan Văn Anh Vũ. Với vai diễn này, “tiếp bước cha anh”, liên minh ma quỷ Vũ - Quân đã từng bước, từng bước gặm nhấm từng khu đất, lũng đoạn tài chính, ngân hàng Việt để làm giàu cho chính bản thân họ. Nếu cái thân thế “tình báo viên” của Tổng cục Tình báo dễ dàng phân phát cho những tay chơi mới nổi như thế thì liệu dân tộc này sẽ đi về đâu? Câu hỏi này cần lãnh đạo Tổng cục Tình báo nghiêm túc làm rõ. Chỉ biết rằng, hiện nay Phan Văn Anh Vũ, Bùi Cao Nhật Quân đi đâu cũng ngồi xe sang mang biển số “80A”, cầm công văn của lãnh đạo Tổng cục Tình báo kèm theo thẻ ngành, súng ngắn thị uy với chính quyền địa phương để cướp đất. Đáng buồn là nhiều lãnh đạo địa phương ăn phải viên đạn dán mác “gái - tiền” của liên minh này đành ngậm bồ hòn làm ngọt, a dua với chúng để hút máu người dân.

29.04.2017


gửi Danlambao

Nguyễn Xuân Phúc và "bè lũ" lại bị tố

Danlambao - Sau khi Đinh La Thăng bị Nguyễn Phú Trọng đưa ra trảm hầu cắt đường hoạn lộ của Thăng, các đồng chí "phe bên kia" đã tung chiêu tố cáo "phe bên này". Người bị tố một lần nữa là Nguyễn Xuân Phúc - đàn em của Trọng, cùng với một số cô hồn các đảng khác của Trọng. Dùng phương cách thư gửi TBT đảng, kẻ tố cáo đã chuyển đến các cán bộ, đảng viên trong đảng về những hành vi, thủ đoạn của chính những đàn em của Nguyễn Phú Trọng.

Danlambao gửi đến bạn đọc trong thôn những "sự tình" đấu đá nội bộ để có thêm dữ kiện của những kẻ tự mang danh "giải phóng" đang quậy nát đất nước Việt Nam.

*

Dư luận cán bộ cấp cao nói về việc hình thành nhóm lợi ích còn kinh khủng hơn nhóm lợi ích nhiệm kỳ Chính phủ trước xung quanh Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, đó là: Trương Tấn Sang, Nguyễn Xuân Phúc, Trương Hòa Bình, Trương Mỹ Lan (Lan, “Vạn Thịnh Phát”), Đặng Văn Thành (Thành “Tàu”), Dương Công Minh (Minh Him Lam), Trần Bá Dương (Dương Trường Hải), Vũ Văn Tiền (Tiền còi), Võ Văn Hồng (Hồng “Nga”), Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm), Thân Đức Nam (Nam Thời). 

Trong gia tộc Nguyễn Xuân Phúc thì có bà Trần Thị Nguyện Thu (vợ Thủ tướng), Vũ Chí Hùng (con rể Thủ tướng), Trần Công Tấn (anh vợ Thủ tướng). Chưa có một phu nhân Thủ tướng nào lại trực tiếp làm kinh tế như phu nhân đồng chí Nguyễn Xuân Phúc. Hàng loạt khách sạn trong phố cổ Hà Nội là của bà Trần Thị Nguyệt Thu. Vũ Chí Hùng, Trần Công Tấn thì làm mưa, làm gió ở miền Trung, miền Nam, mà chủ yếu là cướp dự án. Minh Him Lam liên kết Đặng Văn Thành và dưới hỗ trợ của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc thôn tính Sacombank. 

Liên minh Trương Tấn Sang - Nguyễn Xuân Phúc - Trương Hòa Bình, sử dụng thanh tra Chính phủ, Công an đe dọa các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải quy phục, phục tùng, nếu ai không theo sẽ bị thanh tra, điều tra và kết cục là mất hết tài sản, đi tù.


*

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày 04 tháng 4 năm 2017

Kính gửi: Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Đồng kính gửi: Bộ Chính trị

Chúng tôi là những cán bộ hưu trí ở khu Hoàng Cầu, Đống Đa và khu Lý Nam Đế, Hoàn Kiếm, Hà Nội xin báo cáo đồng chí Tổng Bí thư về phản ứng, dư luận của quần chúng nhân dân về đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, cụ thể như sau:

- Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc đi địa phương liên tục, đến tỉnh nào cũng theo một “mô típ”: làm việc với thường vụ, tổ chức hội nghị xúc tiến đầu tư. Phát biểu thì giống nhau, câu được, câu mất, không có nội dung gì, chỉ thấy “đầu tàu” với “trọng điểm”. Hàng ngày, trên truyền hình, bản tin thời sự 19h luôn có một nghịch cảnh, đồng chí Tổng Bí thư và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước phát biểu rất là xúc tích, từng ý, từng câu chặt chẽ, thuyết phục mọi người, phong cách thì điềm đạm, chững chạc, trong khi đó đồng chí Nguyễn Xuân Phúc cứ luyên thuyên, ba hoa, không nội dung, nhiều người còn nói là “như con lật đật”. Ở Hà Nội giờ có phong trào cứ thấy đồng chí Nguyễn Xuân Phúc lên truyền hình là tắt tivi. Chúng tôi hỏi nhiều lãnh đạo địa phương thì đều được câu trả lời, Thủ tướng đến rồi Thủ tướng đi, địa phương chẳng có gì thay đổi; việc đăng ký đầu tư tại Hội nghị xúc tiến đầu tư chỉ là trò làm đẹp chuyến đi kinh lý của Thủ tướng, sau đó có ai đầu tư đâu, địa phương được một điều duy nhất là được đưa tin đậm nét trên bản tin thời sự 19h (giờ vàng), còn mất công, mất sức, mất tiền đón Đoàn công tác của Thủ tướng.

- Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc đưa ra khái niệm “Nhà nước kiến tạo”, nhưng không hiểu đồng chí Thủ tướng có hiểu rõ về “Nhà nước kiến tạo” không. Chúng tôi có hỏi anh em công tác tại Văn phòng Chính phủ thì được trả lời rằng, Thủ tướng không hiểu gì đâu, mà đây là chắp bút của mấy trí thức Việt kiều ở Nhật Bản viết ra, Thủ tướng chỉ đọc để chứng tỏ có cái mới so với nhiệm kỳ trước. Chúng tôi tìm hiểu thì được biết, tác giả của “Nhà nước kiến tạo” là Chalmers Johnson, đưa ra từ năm 1982, trên trang cá nhân của ông này ghi rõ là chuyên gia về Trung Quốc, cố vấn cho Cơ quan tình báo Mỹ (CIA) về Trung Quốc hàng chục năm. Chúng tôi băn khoăn, cố vấn của CIA đưa ra “Nhà nước kiến tạo” có phải để xây dựng chủ nghĩa xã hội không?

- Kể từ khi lên làm Thủ tướng đến nay, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc chỉ tập trung vào sự vụ, đánh bóng hình ảnh cá nhân, còn việc chính của Thủ tướng Chính phủ thì chưa có kết quả gì. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc thường xuyên chỉ đạo các vụ việc cụ thể như cà phê Xin chào, hành khách đánh nhân viên Nội Bài..., hay những việc như đối thoại công nhân lần 1, lần 2, kiểm tra chợ đầu mối Hà Nội, uống cà phê tại Tp.Hồ Chí Minh để đánh bóng hình ảnh cá nhân. Chúng tôi đều biết bà con tiểu thương chợ đầu mối phải mất nửa buổi tập dượt để đón Thủ tướng xuống kiểm tra, báo chí chờ sẵn đưa tin, nhưng vẫn nói bất ngờ kiểm tra?! Không rõ lời hứa của Thủ tướng với công nhân tại đối thoại lần 1 đã thực hiện được bao nhiêu phần trăm rồi mà đối thoại lần 2?! Những ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng theo hướng “chủ nghĩa dân túy” thường xuyên xuất hiện trên báo chí, truyền hình (bản tin thời sự 19h của Đài Truyền hình Việt Nam chạy liên tục dùng chữ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ). Trong khi dó, nhiệm vụ chính là xây dựng chính sách, điều hành kinh tế vĩ mô thì rất yếu. Cho đến nay, chưa có bất kỳ một chính sách nào mang tính đột phá để thúc đẩy kinh tế phát triển. Những yếu kém của nhiệm kỳ trước để lại không những không được khắc phục mà còn trầm trọng thêm và nảy sinh nhiều yếu kém, tồn tại mới. Mặt khác, trong chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta có được phép cho chủ nghĩa dân túy tồn tại không?

- Dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thì kinh tế Việt Nam phát triển chậm nhất trong những năm gần đây, trong khi thời cơ, thuận lợi thì nhiều hơn trước. Dư luận nhân dân tổng kết: tăng trưởng GDP thấp nhất, doanh nghiệp ngừng hoạt động nhiều nhất, nền kinh tế phụ thuộc vào nước ngoài nhất (các doanh nghiệp FDI chiếm 70% xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế), doanh nghiệp bất an, mất niềm tin nhiều nhất, lạm phát cao nhất (những năm gần đây). Người dân cũng đánh giá, xây dựng Đảng đi lên, kinh tế - xã hội đi xuống.

- Dư luận nhân dân cũng nói rất nhiều về việc hình thành nhóm lợi ích còn ghê ghớm, kinh khủng hơn nhóm lợi ích nhiệm kỳ Chính phủ trước xung quanh Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, đó là: Đ/c Trương Tấn Sang- Đ/c Nguyễn Xuân Phúc- Đ/c Trương Hòa Bình - Trương Mỹ Lan (Lan, “Vạn Thịnh Phát”)-Đặng Văn Thành (Thành “Tàu”) - Dương Công Minh (Minh Him Lam)- Trần Bá Dương (Dương Trường Hải)-Vũ Văn Tiền (Tiền còi)-Võ Văn Hồng (Hồng “Nga”)-Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm)-Thân Đức Nam (Nam Thời). Trong gia tộc đ/c Nguyễn Xuân Phúc thì có bà Trần Thị Nguyện Thu (vợ Thủ tướng) -Vũ Chí Hùng (con rể Thủ tướng), Trần Công Tấn (anh vợ Thủ tướng). Dư luận nhân dân nói rằng chưa có một phu nhân Thủ tướng nào lại trực tiếp làm kinh tế như phu nhân đồng chí Nguyễn Xuân Phúc. Hàng loạt khách sạn trong phố cổ Hà Nội là của bà Trần Thị Nguyệt Thu (điều này thì đồng chí Tổng Bí thư có thể kiểm tra là thấy ngay; con cháu chúng tôi làm ở Ủy ban quận Hoàn Kiếm xác nhận điều này là chính xác). Vũ Chí Hùng-Trần Công Tấn thì làm mưa, làm gió ở miền Trung, miền Nam, mà chủ yếu là cướp dự án. Minh Him Lam liên kết Đặng Văn Thành và dưới hỗ trợ của đồng chí Nguyễn Xuân Phúc thôn tính Sacombank. Một số đồng chí lão thành thì nói với chúng tôi rằng, đang có liên minh Trương Tấn Sang - Nguyễn Xuân Phúc - Trương Hòa Bình, sử dụng thanh tra Chính phủ, Công an đe dọa các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải quy phục, phục tùng, nếu ai không theo sẽ bị thanh tra, điều tra và kết cục là mất hết tài sản, đi tù. Không biết có việc này không, mong đồng chí Tổng Bí thư kiểm tra làm rõ. Chúng tôi chỉ không hiểu tại sao đồng chí Trương Tấn Sang đã nghỉ hưu rồi, mà vẫn thường xuyên có mặt ở Hà Nội? Đồng chí Tổng Bí thư đã chặn đứng thành công nhóm lợi ích của khóa trước, nhân dân Thủ đô rất mừng, đặt trọn niềm tin vào đồng chí, giờ mong đồng chí ngăn chặn ngay việc hình thành, phát triển nhóm lợi ích mới như dư luận nhân dân bàn tán.

Với kết quả kinh tế-xã hội của một năm qua, rõ ràng đồng chí Nguyễn Xuân Phúc đã không hoàn thành nhiệm vụ của một Thủ tướng Chính phủ; với việc trở thành trung tâm nhóm lợi ích mới thao túc nền kinh tế để phục vụ lợi ích cá nhân thì đồng chí Nguyễn Xuân Phúc không xứng đáng là lãnh đạo cao cấp của Đảng. Nhân dân rất mong Bộ Chính trị, mà đặc biệt là đồng chí Tổng Bí thư góp ý thẳng thắn với đồng chí Nguyễn Xuân Phúc. Nếu đồng chí Nguyễn Xuân Phúc không thay đổi thì vì lợi ích của đất nước, lợi ích của nhân dân và lợi ích của Đảng, Bộ Chính trị, mà trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư nên để đồng chí Nguyễn Xuân Phúc nghỉ hoặc làm việc khác, chọn người thực sự có tài, có đức làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ.

Rất mong đồng chí Tổng Bí thư và Bộ Chính trị lắng nghe ý kiến của nhân dân Thủ đô./.

Phan Văn Dinh 

Cảm nghĩ 30 tháng tư

Hồ Chí Phèo (Danlambao) - Sài Gòn đã mất tên mình sau ngày 30/4/1975. Cùng với cả nước, tất cả đã nhuộm màu đỏ của máu, của người cộng sản. Người Việt sẽ không bao giờ quên đi được ngày ấy, một biến cố thay đổi hẳn cuộc đời hàng triệu triệu người. Có hàng ngàn bức ảnh, hàng triệu câu chuyện về ngày ấy được xem, được viết, được nhớ lại...

Một trong nhiều người lính trong quân đội VNCH ở lại đến ngày cuối cùng... 

“Cấp bậc cuối cùng của tôi là Trung tá quân đội Việt Nam Cộng Hoà. 

Ngày 28/4/1975 đơn vị tôi được đưa về đóng ở cầu Sài Gòn. 

Trước đó một tuần, cố vấn người Mỹ, cũng là người bạn thân, đề nghị đưa tôi và gia đình lên máy bay di tản sang Mỹ. Tôi đã nghĩ đến những người lính đã từng gắn bó bao nhiêu năm, đã sống chết bên nhau. Cấp bậc có khác nhưng cùng là con người, cũng có niềm vui, nỗi khổ cực giống nhau, tôi không thể dứt bỏ ra đi một mình để họ ở lại chiến đấu đơn độc. Mặc dù tôi biết rõ khi cộng sản chiếm hoàn toàn miền Nam, bọn chúng sẽ đối xử tôi và những người sỹ quan chỉ huy của quân đội miền Nam tự do, rất “đặc biệt”. 

Khoảng trưa sau khi cùng nghe diễn văn của ông Dương Văn Minh, tôi bắt tay từ giã các chiến hữu cùng đơn vị trong nước mắt, chúc nhau gặp may mắn. Đời lính như chúng tôi, bao nhiêu năm tháng vào sinh ra tử cho tổ quốc quyết sinh có khi nào được khóc? Về đến nhà nhìn lên bàn thờ, tôi nghẹn ngào: "Cuối cùng mình cũng hoàn thành nhiệm vụ của một người lính trong danh dự và trách nhiệm". Tôi và gia đình đều hiễu mình sẽ đối diện với tương lai đen tối trước mặt. 

Tôi trình diện đi học tập theo diện sỹ quan. Tôi gặp lại nhiều bạn bè cũ, họ đã cùng một ý nghĩ như tôi, có điều kiện ra đi nhưng vẫn chọn ở lại đến phút cuối cùng. Chúng tôi bị đưa ra trại tập trung phía Bắc lao động khổ sai, làm quen với đói rét, ốm yếu, bệnh hoạn... Nhiều người không vượt qua, đã nằm lại trong những nấm mồ đơn sơ ở một nơi hoang vắng. Qua hơn 10 năm khổ cực trong tù, tôi may mắn còn sống sót để có ngày đoàn tụ lại với vợ con. 

Gia đình tôi qua Mỹ theo diện HO năm 1996. Hiện tại các con tôi đều có việc làm, cuộc sống ổn định. Tôi và vợ sống chung với gia đình đứa con trai út. 

Mỗi năm, vào ngày 30/4 tôi nhìn lại những bức ảnh ngày tháng tư đen đó để hồi tưởng thảm cảnh những người chạy loạn tránh cộng sản từ miền Trung vào Nam. Những chiếc tàu động nghẹt người, những chuyến máy bay người ta chen nhau, xác người chết trên đường... Bàn tay tôi đã run, trí óc tôi vẫn minh mẫn, vẫn nhớ, vẫn vẽ đầy đủ cảnh bi ai nhưng hùng tráng của những người dân, người lính miền Nam đến những ngày cuối cùng 30/4/1975. 

Sau tháng tư đen ấy, người cộng sản quá huyênh hoang với chiến thắng, không có đủ trí khôn để học hỏi cách thức xây dựng đất nước sau chiến tranh. Họ đã bỏ qua rất nhiều cơ hội đưa đất nước trở nên phồn vinh. Đức, Nhật hai quốc gia bại trận, đất nước tan nát do bom đạn nhưng chỉ sau khoảng 20 năm, đất nước họ trở thành những cường quốc. 

Nhiều đêm tôi thao thức, trí óc miên man quay về dĩ vãng. Nghĩ đến bao nhiêu anh em đồng đội đã ngã xuống. Nghĩ đến đất nước, biển đảo đã và đang bị kẻ thù phương Bắc xâm lấn. Rồi để ứa nước mắt với câu hỏi quay quẩn trong đầu “Khi nào dân ta thực sự hạnh phúc?”

*

Một du kích từ một mật khu trong rừng... 

“Ngày 30/4/75 tui vui quá trời! Từ lúc cha sinh mẹ đẻ đến giờ chưa có ngày nào vui hơn! Năm 12 tuổi, đâu có học hành gì đâu, tôi theo cách mạng, vác súng, vác đạn cho các anh du kích. Từ đó tôi từ từ bò lên, liên lạc viên, rồi y tá, y sỹ... Nói thẳng nói thiệt, khi du kích bị thương, thằng nào gặp tôi cầm dao, kéo chuẩn bị mổ xẻ, đứa nào cũng sợ xanh mặt, tụi nó chỉ biết ứa nước mắt rồi đờ đẫn ra chấp nhận như số kiếp con ngựa bị gãy rời đôi chân để chạy. Trời, đi du kích mà mất khả năng di chuyển, mất khả năng chui rúc thì chỉ làm gánh nặng cho đơn vị, nên Bác và đảng đã ra chỉ thị đơn vị phải giải quyết “nhanh và gọn”. Tôi lúc nào cũng vượt chỉ tiêu “nhanh và gọn”, do đó du kích tôi đánh nhau chết thôi, quyết không để bị thương! 

Ngày được lệnh ra Rạch Giá tiếp quản thành phố, trong đơn vị, ai cũng mừng quá là mừng. Đang sống giống như chuột trong lổ cống tự nhiên có nhà cửa, giường nệm, chăn thơm, ăn nhậu thả giàn. Ôi chao, giống như lên thiên đường! 

Cũng từ ngày này, sự nghiệp tôi lên như diều gặp gió. Toàn chức vụ ngon ăn, chủ tịch tỉnh, bí thư tỉnh, phó thủ tướng, tổng giám đốc ngân hàng trung ương... Nghĩ lại tôi thấy thiệt mình có nhiều tài, lãnh vực nào mình cũng ngon lành. Học hành? Trời! Trên thế giới có thằng nào học nhanh bằng mình? Chỉ cần vài năm học chơi chơi là tôi có bằng cử nhân luật! 

Khi tôi làm thủ tướng, đảng thấy mình thanh liêm quá nên tôi được kiêm nhiệm trưởng ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng. Mấy đứa con tôi, tự tụi nó lo đi du học ở các nước Anh, Mỹ, rồi cũng tự tụi nó phấn đấu lên lãnh đạo chỗ này, chỗ kia. Tui nghèo đâu có tiền lo cho tụi nó, nó giàu sang là tụi nó do có giống di truyền từ tôi đó thôi! 

Bây giờ về làm “người tử tế”, nhưng chân rết trong đảng của tôi cũng còn vững lắm. Ngày 30 tháng tư năm nay, vui nhưng cũng lo. Chắc không sao, thằng cha già lo đập con ruồi còn chưa xong, đụng gì đế́n được con ếch. Con ếch là chú ông trời, mình ộp một tiếng, ai cũng im.”

*

Một người phụ nữ đã sinh ra, sống ở Sài Gòn...

“Ngày 30/4/1975 lần đầu tiên trong đời bác thấy bộ đội Bắc Việt, bác sợ quá chừng. Mặt mũi đứa nào cũng giống đứa nấy, nón cối, dép râu, súng ống lăm le trên tay. Vài ngày sau bác quen, không sợ, mà thấy tội nghiệp tụi nó. Nghèo nàn, khờ khạo, ngu quá trời, bồn cầu ngồi mà tụi nó nghĩ là chổ rửa tay, rửa mặt, hứng nước uống. Trời đất, ai mà tin! Dzậy mà có thiệt. Đi đâu tụi nó cũng lục tìm “cái đài”, nhiều cái củ rỉn, tụi nó cũng nâng niu. Tội nghiệp thiệt! Nhưng mấy ngày sau đó bác bắt đầu ghét. Đi đâu tụi nó cũng ca ngợi “Bác và Đảng”, lập đi lập lại giống như cái máy. Rồi mấy cha nội lãnh đạo đọc diễn văn, cũng lập lại y chang, cuối cùng mấy chả còn dơ tay hô khẩu hiệu “...muôn năm, muôn năm” và “...sống mãi, sống mãi”. Bà con mình phía dưới cũng phải dơ tay “...muốn nằm, muốn nằm”, rồi “...sống mái, sống mái”. Hổng làm theo, tụi nó đẩy cái rụp dô trại cải tạo, làm gì có toà án, luật lệ! 

Nhà bác chỉ có ổng, chồng của bác, đi học tập có mấy ngày nên cũng đở. Đến khi đánh tư sản mại bản, bác có cái sạp vải nhỏ síu ở chợ, tụi nó cũng đánh luôn. Luật rừng, luật rú, kêu ca ai nghe? Lạng quạng nó cho dô tù hay trại cải tạo. Nhiều người bị đánh tư sản, mất hết nhà cửa còn bị đẩy đi kinh tế mới. Đúng là tụi cướp dựt, cướp ban ngày ban mặt. Từ trên xuống dưới đều làm nghề ăn cướp như dzậy, sao đất nước khá lên được! Không còn gạo, người dân ai cũng ăn bo bo, khoai... thịt cá thì cấp theo tiêu chuẩn. Mà nước nghèo, dân đen lãnh chứ mấy thằng chóp bu ở trên cướp của người ta, chia chác nhau sống khoẻ re. 

Cảm giác từ sợ, tội nghiệp, ghét, căm thù để cuối cùng nhiều gia đình đã bất chấp nguy hiểm, vượt biên tìm đến bến bờ tự do. Gia đình bác có hai đứa con đi vượt biên. Một đứa chết trên biển vì hải tặc. Một đứa may mắn qua được Mỹ. Nhờ nó bảo lãnh, gia đình bác mới qua bên đây. Đời sống giờ cũng ổn. 

Hàng năm cứ đến ngày 30 tháng tư, nhớ đến chuyện cũ ở Việt Nam, bác lại nổi da gà. Trời ơi, đất nước gì mà kỳ cục, sản sinh ra mấy thằng khùng khùng, điên điên chỉ vì chủ nghĩa tầm bậy tầm bạ gì đó. Miệng lúc nào cũng ba hoa, xã hội công bằng, mà tay chỉ lo cướp dựt của cải người dân để làm giàu riêng cho mình, cho gia đình mình. Bây giờ nó tiếp tục cướp đất, cướp tài nguyên của dân mình. Nghĩ tới nghĩ lui, đôi lúc bác ứa nước mắt, tức cái bọn lãnh đạo dối trá, thương người dân còn ở lại. Không biết bao giờ họ mới hưởng được tự do, hạnh phúc như gia đình bác bây giờ? 

*

Miền Bắc, chế độ độc tài đảng trị bọc người dân trong một cái vỏ kín của sự dối trá, mọi người tin miền Bắc đang “giải phóng” dân miền Nam nghèo đói... 

“Bác có đứa con nhập ngũ trước 30 tháng tư 75. Miền Bắc ai cũng nghe Bác và Đảng nói dân miền Nam bị Mỹ Ngụy bóc lột nên đói khổ lắm, nên mình phải “giải phóng” cho họ. Khi con nó theo bộ đội tiến vào Nam, Bác gói cẩn thận cho nó mấy cân đường mang theo,. Sau khi giải phóng được Sài Gòn, dặn dò nó ghé nhà ông anh Bác cứu đói, đưa quà. 

Tháng sau ngày giải phóng, con nó về phép thăm nhà. Nó mang về bao nhiêu thùng hàng. Tôi ngạc nhiên hỏi thăm: “Con đến thăm Bác Thắng, đưa quà cho bác ấy rồi phải không? Chắc gia đình bác nghèo đói lắm?”. Con tôi ôm bụng cười: “Ối giời ơi, nhà bác ấy to như cái lâu đài. Bác trai phải đi học tập. Chỉ gặp bác gái, bác đã mời con vào nhà. Ối giời ơi, vào nhà rộng rãi, cái ghế sao mà nó ngồi êm thế. Con đưa tay vào túi xách tính lấy quà để đưa, nhưng nhìn căn nhà sang trọng quá, con quá xấu hổ lại rút tay ra. Đây bác gái gửi biếu mẹ mấy xấp vải, còn bố cái đài”. 

Bác ngồi mân mê xấp vải hàng giờ, nó như nhung như lụa. Suốt cuộc đời sống ở miền Bắc, chưa bao giờ bác thấy những tấm vãi đẹp đẽ đến thế. Còn chồng bác chả lo ăn uống gì, suốt ngày ông ôm cái đài, nghe chán cất vào tủ khóa lại. Nghĩ một lát, ông lại mở tủ, lấy đài ra... Cứ thế... 

Thấy con đeo cái gì là lạ ở tay, bác hỏi. Nó vui vẻ khoe ngay: “Ngồi nhà Bác Thắng, con cứ nhìn chăm chú cái đồng hồ đeo tay của con bác. Cuối cùng anh ấy cười, tháo ra tặng con làm kỷ niệm, vì anh ấy có đến mấy cái. Đấy bố mẹ xem, đồng hồ không người lái của bọn tư bản. Đeo vào tay, cử động tay làm nó chạy chả cần lên dây cót gì cả!”. Hai bác chưa bao giờ nhìn thấy cái vật gì đẹp và tinh xảo như vậy, cứ nâng niu và nhìn. Con bác bật cười “Cho Bố mẹ mượn. Mai trả lại cho con”. 

Tối lên giường nằm, bác trai cứ đưa tay lên, ngắm cái đồng hồ không người lái. Bác sốt ruột: “Ông đeo thế, ngủ làm vỡ nó mất. Để tôi cất lên cạnh ảnh thờ của Bác Hồ”. Bác để cái đồng hồ trước ảnh Bác Hồ: “Cháu cho Bác mượn tạm. Đời Bác chắc chẳng bao giờ có cái đồng hồ này đâu. Mai Bác trả lại cho chúng cháu”. Thế mà chỉ lát sau, ông chồng bác lại lồm cồm đứng lên: “Bà vẽ chuyện. Bác đứng yên thế kia, chả chịu “lắc” gì cả, “nó”chết toi” mất!”. Thế ông ấy cứ loay hoay cái đồng hồ không người lái: “Tôi để gần giường. Thỉnh thoảng, bà cầm lên “lắc” phụ tôi. Đấy xem kim nó nhúc nhích kia kià. Quên không “lắc” nó lăn kềnh ra thì khốn!”. Hai bác cả đêm không ngủ được vì lo “lắc”, nhưng hai bác vui vẻ lắm! 

Mỗi năm có dịp nhớ lại ngày 30/4/1975, bác lại nhớ đến cái đồng hồ không người lái. Một kỷ niệm không thể quên vì nó là vật thật, một trong những cái thật, đã thật sự “giải phóng” cho bác thoát khỏi cái không gian mà mình đã sống trong bao năm, chỉ có sự dối trá, sự lừa gạt. 

*

Chiến dịch đánh “tư sản mại bản” là một sự kiện gắn chặt với ngày 30 tháng tư. Đỗ Mười, Uỷ viên bộ chính trị TUĐCSVN, được cử vào Sài Gòn chỉ đạo chiến dịch với sự tham gia đông đảo của công an, bộ đội, cán bộ, công nhân viên chức nhà nước... Không chỉ tầng lớp giàu có, những người trung lưu, hoặc tiểu thương ở các chợ cũng bị kiểm kê, tịch thu hàng hoá, nhà cưả... Một cuộc cướp của qui mô có lẽ chưa hề có trong lich sử cận đại của nhân loại. Từ một nơi xa xăm, người phụ nữ nói về những ngày ấy...

“Hai vợ chồng bác do cần cù, chịu khó, đã vươn lên từ sự nghèo khổ có một gia đình tương đối sung túc. Bác không quan tâm nhiều đến chính trị, chỉ chăm chỉ lo làm ăn, lo cho gia đình. Ngày 30/4/1975 bác hy vọng đất nước thống nhất, cùng là người Việt, tất cả cùng chung lưng xây dựng lại. Nhưng sau ngày tháng tư ấy, tất cả đều xụp đổ, mọi chuyện xẩy ra khác hẳn, ngoài sự tưởng tượng của con người. Bác trai phải dẫn con vào Sài Gòn sống, ở đó gần trung ương, quốc tế nó e dè hơn. Xa xôi tỉnh lẻ, bọn chúng bắt người, cướp của... không một ai kiện tụng được! Bác ở lại tỉnh, giữ nhà. Nhưng nhà bác thuộc diện bị đánh tư sản mại bản. 

Bọn chúng lục xét nhà bác. Chúng bỏ ngoài tai những lời van xin, cầu khẩn. Chúng hăm dọa, rồi vỗ về, niêm phong tất cả mọi thứ trong nhà chỉ trừ vài món lặt vặt để bác có thể khăn gói lên đường đi vùng kinh tế mới. Chúng rời nhà, quăng lại bên cạnh người đàn bà khốn khổ đang ngồi bệt trên nền nhà, đã khóc cạn cả nước mắt, tờ giấy ra quyết định tịch thu nhà cửa, tài sản do Ủy ban quân quản tỉnh ký. 

Bác vẫn ngồi, gục đầu trên giường. Trưa, chiều rồi tối, bác vẫn ngồi im lìm, không còn biết đến không gian, thời gian... Cuối cùng bác quyết định đứng dậy, nhìn quanh. Không! Không thể để bọn cướp ngang nhiên như thế! Bác phải đấu tranh ở lại căn nhà của bác. Không đi đâu cả! Trời đã khua. Bác thấy lạnh lắm. Bác lần bước đến căn hầm xây dưới nhà để gia đình trú ẩn khi cộng sản pháo kích vào tỉnh. Bác sẽ trốn xuống dưới đó. Bọn chúng sẽ không bao giờ tìm ra bác. Cửa hầm tối đen, bác vướng chân, té nhào xuống lăn người trên nền đá lạnh của căn hầm. Đau quặn cả người, nhưng bác cũng cố gắng gượng dậy. Phải gắng sức chống bọn cướp, chúng không dễ dàng lấy được nhà của bác! 

Vài ngày sau, bác nghe những tiếng động trên hầm. Bọn cướp đã dọn vào ở. Bọn chúng tươi cười, ăn mừng ồn ào. Nghe chúng nói chuyện, bác biết một thằng tướng cướp, được thuộc hạ cung kính gọi là “anh Ba”đã dọn vào ở, đang chờ đợi vợ con từ miền Bắc vào. 

Khuya, bọn bộ hạ đã rời nhà, thằng tướng cướp đã ngủ, bác rón rén rời hầm. Bác lẻn vào phòng ngủ thằng tướng cướp. Khuôn mặt thằng tướng cướp trong giấc ngủ vẫn đầy vẻ ranh mãnh, giảo quyệt, hơi thở lẫn mùi bia, rượu, thuốc lá. Bác đưa tay khẽ chạm vào mặt nó, lẩm bẩm: “Thằng khốn nạn! Thằng ăn cướp!”. Nó chỉ nháy nháy lỗ mũi, quay đầu sang hướng khác, vẫn ngáy đều. 

Bác nhẹ nhàng rời phòng, sang một phòng khác. Một phòng có chứa nhiều thùng hàng trên có hàng chữ viết “Gửi anh Ba”. Vài thùng hàng hàng đã tháo dỡ dang, những xấp vãi, những kem đáng răng, xà bông, những chén, đĩa... Tất cả đều mới. Bác giận điên người: “Thằng khốn nạn! Nó cướp của bao nhiêu người!”. Bác vô tình làm rơi vài món xuống đất. Có lẽ tiếng động đi lại và vật rơi làm thằng khốn nạn thức dậy. Bác vội trốn vào một chỗ, lén nhìn. Nó tỏ vẻ ngạc nhiên, càu nhàu, cầm vài thứ rơi rãi trên nền nhà, quăng lại trên bàn, rồi quay trở về phòng ngủ. Bác không để nó ngủ yên. Bác bắt đầu mở cửa cho gió lùa vào. Tiếng động làm thằng khốn nạn lại thức dậy, càu nhàu đóng cửa. Bác lại chạy tung mở cánh cửa khác, rồi bác nấp kín... Bác nhanh nhẹn chơi trò cút bắt với thằng khốn nạn suốt đêm. Bác vui quá, không thấy mệt gì cả. Mãi đến khi trời sáng, bác sợ nó dễ thấy được mình, bác mới tạm lánh xuống hầm. 

Sau vài đêm chơi trò cút bắt, thằng tướng cướp có vẻ mệt mỏi và hoang mang. Chung quanh mắt nó có quầng đen và hơi thở trở nên nặng nhọc. Trong khi bác cảm thấy khoẻ hơn, đi đứng manh bạo, tự tin hơn. Bác còn có thể đẩy nhẹ chén bát nó hớ hênh để gần mép bàn, làm nó vỡ tung trên nền nhà. 

Cứ như thế, một đêm mưa gió, bác đã mở tung được nhiều cánh cửa, mưa gió gào thét tràn vào. Thằng khốn nạn đã hoảng sợ! Bác chạy chung quanh nhà, bác cười. Bác chạy ra ngoài trong cơn mưa, trong ánh sáng thấp thoáng của tiếng sét, bác chỉ vào mặt thằng khốn nạn qua khung cửa sổ, bác cười. Tiếng cười của uất ức đến cùng cực, man dại hẳn đi... Rồi bác chạy vào nhà, chạy từ khung cửa mở toang này đến khung cửa mở toang khác. Nó dường như đã nhìn thấy, quay vòng nhìn theo bác. Bác không còn sợ, chỉ tay vào khuôn mặt tái nhợt kia và cười. Nó gục mặt, lê bước, trợt vào những mãnh vỡ trên nền nhà ướt sũng nước. Nó té nhào, đầu va vào cạnh bàn. Máu chảy quanh mắt nó, qua mũi, qua miệng rơi xuống... Bác đưa tay chỉ vào mặt nó. Kỳ lạ thay, ngón tay của bác như dài ra, chạm được vào trán của nó. Nó đưa tay như cố gắng đẩy ra. Trong mắt ngoài máu có lẽ còn cả nước mắt, ánh mắt thằng tướng cướp nhìn như đang van cầu sự tha thứ. Rồi nó đã bò như con thú đã bị mù, bò mãi, bò ra khỏi cửa nhà, cố gắng đứng lên, khập khểng chạy, rồi té, gượng đứng lê bước thấp cao, thấp thoáng biến vào màn đêm mưa gió. Bác đứng nhìn, tự nhiên những khổ đau, uất ức dâng lên, thoát ra bằng tiếng cười. Tiếng cười vang lên trong căn nhà hoang vắng. Ánh sáng cả căn nhà, căn nhà của bác, như chớp tắt theo. 

Thằng tướng cướp không trở lại. Chỉ còn bác một mình trong căn nhà. Căn nhà bác bị khoá cửa lại. 

Vài năm sau, phía trước nhà được mở cửa hàng bán thuốc tây. Cô bán hàng buổi chiều hàng ngày khoá cửa về nhà riêng. Có nhiều người khách đến mua hàng, tò mò: “Căn nhà rộng rãi, sao không có ai ở?”. Cô cúi đầu, trả lời nhẹ nhàng “Bà chủ cũ căn nhà bị đánh tư sản. Bà uất ức, treo cổ ngay trong nhà nên không ai dám ở”. 

Không, bác không chết. Dù thời gian qua, tóc bác nay đã bạc phơ như sương tuyết, da thịt bác như từ từ tan biến đi, lẫn vào không khí. Bác vẫn sống trên nền nhà cũ và những ngày 30 tháng tư bác vẫn nhớ lại cái ngày gọi là ngày “giải phóng”. 

*

Trở về hiện tại, những người trẻ sinh ra sau 30 tháng tư 1975 nghĩ gì về ngày ấy. Có lẽ muôn ngàn ý kiến. Có những ý kiến do tự cảm nhận, tự tìm hiểu, tự học hỏi. Có những ý kiến do sự giáo dục nhồi sọ ngay từ lúc còn nhỏ. Có ý kiến chủ quan, khách quan...

Một người trẻ sinh ra và lớn lên ở Mỹ... 

Ba má tôi vượt biên khoảng năm 1980 và được nước Mỹ cho định cư. Tôi không hiểu nhiều về chiến tranh Việt Nam, chỉ hiểu đại khái miền Bắc cộng sản được Liên Xô, Trung cộng hậu thuẩn, đưa quân qua đường mòn HCM tấn công quân đội chính quyền miền Nam được Mỹ, Úc, Nam Hàn... giúp đỡ. Tôi có xem nhiều hình về ngày 30/4 trên internet, nổi bật trên hết là hình những người dân chạy loạn từ Trung vào Nam. Họ được “giải phóng” nhưng lại bất chấp sinh mạng của mình chạy trốn sự “giải phóng” ấy. Tôi rưng rưng nước mắt. Tôi chỉ cho cô bạn gái người Mỹ. Cô ấy khóc “Tội nghiệp người miền Nam. Cũng là con người sao họ khổ quá!”. Sau 30 tháng tư, hàng triệu người bất chấp hiểm nguy, tiếp tục vượt biên. “Giải phóng” gì kỳ lạ quá, tôi không thể hiểu được? 

Một cô gái được nhồi sọ từ nhỏ, đang mong làm “cô dâu Trung quốc”, một mode đang dần thịnh hành... 

“Em yêu Bác và Đảng từ khi còn tấm bé. Em cũng yêu bác Mao. Nhờ bác Mao và Liên Xô nên Bác và Đảng mới có chiến thắng ngày 30 tháng tư. Trung quốc có đánh Việt nam năm 1979 nhưng mình có khi cũng hư lắm nên họ mới “thương cho roi cho vọt” thôi. Biển đảo người mình cứ đánh cá bừa bãi, hủy hoại môi trường thế nên Trung quốc nó chiếm để giữ gìn. Khi nào môi trường tốt họ trả cho VN ngay. Về chính trị, Trung quốc họ chả bao giờ chịu ngồi yên để VN thay đổi gây ảnh hưởng đến chế độ của họ. Đến đây em phải đi vì mắc hẹn với con bạn gặp các anh Trung quốc. Trai Trung quốc giàu có, khéo và chiều các em lắm. Chả bù các anh trai VN nghèo, không tiền bạc gì”. 

Một cô gái chỉ muốn yên thân học hành... 

“Em bắt đầu lên đại học. Cùng lứa tuổi, các em chỉ biết về ngày 30 tháng tư do đảng và đoàn nói cho biết. Ba má em cũng khuyên em phải nghe lời đảng, đừng đụng đến chính trị, nhạy cảm lắm, ảnh hưởng sự nghiệp sau này. Em sợ ba má em buồn, lỡ có gì ai lo cho ba má em, còn tương lai gia đình riêng của em sau này? Học ở Việt nam, ra trường muốn có việc làm phải có quan hệ, có phong thư, em cũng lo lắm. Em với nhiều đứa bạn rất mong ước đi học nước ngoài Mỹ, Anh, Canada, Úc... Học xong xin ở lại, bão lãnh gia đình...”. 

Một cô gái trẻ học trong trường, học ngoài xã hội... 

“Em ở tuổi hai mươi. Em đọc và tìm hiểu rất nhiều trên internet. 30 tháng tư 1975 là ngày thống nhất đất nước nhưng qua hơn 40 năm giữa người Việt còn rất nhiều chia rẽ, hận thù. Không thống nhất được lòng người với nhau thì thống nhất chỉ là cái vỏ bề ngoài, không mang lại sức mạnh của một quốc gia thống nhất thực sự, Trung quốc coi thường mình là chuyện đương nhiên. Như thế thà giữ như nam bắc Triều Tiên, hai miền có hai chế độ phát triển ngược nhau và Trung quốc có thái độ nể nang hơn so với VN”. 

Một bạn trẻ suy nghĩ nhiều về “thống nhất”... 

“Tôi nghe lãnh đạo cộng sản VN nói đến hoà hợp, hoà giải để thực sự thống nhất. Tôi nghĩ khó lắm khi nhiều người Việt sống ở nước ngoài, và nhiều người trong nước thích tư tưởng tự do, dân chủ. Người Việt trong nước thấy cùng là con người, sao người nước ngoài có nhân quyền, đất nước giàu có? Lãnh đạo Việt nam luôn bắt người dân phải phục tùng, ép buộc theo đường lối của họ, nhân quyền bị chà đạp... thì làm sao có hòa hợp. 

Một ông thủ tướng VN đã nói “Ngày 30 tháng tư triệu người vui, triệu người buồn”. Một câu nói bâng quơ không có giá trị thực tế gì cả. Tuy nhiên ông ta trong lúc bất chợt cũng thấy được một điều gì chứng tỏ ông ta có một ít nhân tính hơn các người lãnh đạo CS khác. 

***

30 tháng tư 1975 theo cộng sản là ngày giải phóng miền Nam, ngày thống nhất hai miền Nam Bắc. Không thể một người nghèo hơn, đi cướp giựt người giàu hơn rồi nói mình đi giải phóng cho họ. Kệch cỡm và trân tráo lắm. Thống nhất chỉ trên hình thức, lòng người sau bao năm vẫn chia rẽ, hận thù. Một bên giai cấp thống trị vẫn ôm lý thuyết Mác Lê, mục đích bảo vệ đảng, bảo vệ quyền lợi của mình. Một bên giai cấp bị trị đòi hỏi nhân quyền, công bằng trong xã hội. Người giai cấp bị trị chắc chắn phải đông hơn cái thiểu số giai cấp thống trị đang được hưởng đặc quyền, đặc lợi kia. Nhưng nhóm quần chúng đa số, ngoài lý do không vượt qua nỗi sợ hãi với bạo quyền. Một lý do cũng rất quan trọng là chưa có phối hợp gắn bó với nhau giữa các cá nhân trong giai cấp bị trị. Lech Walesa đã tạo sự kết dính những người cùng tư tưởng đấu tranh đã đưa đến sự thành công của Công đoàn Đoàn Kết Ba Lan. Tương tự Mandela của cộng hòa Nam Phi, Aung San Suu Kyi của Miến Điện là những nhân tố kết hợp, tạo sức mạnh của sự đoàn kết đưa đấu tranh đến thành công. Khi chúng ta chưa đoàn kết để có tiếng nói chung, e rằng chúng ta sẽ tiếp tục ngậm ngùi khi ngày 30 tháng tư lại đến. 

29.04.2017

Những người săn đạn

Đinh Yên Thảo (Danlambao) - Ngày 28 Tháng Tư 1975. Ngược dòng với đoàn người thất thần trốn chạy cộng sản đổ về Sài Gòn, chiếc xe La Dalat chở Michel Laurent thuộc hãng thông tấn ảnh Pháp Gamma và Christian Hoche của tờ Le Figaro trực chỉ Quốc Lộ. Họ thuộc trong số vài ký giả phương Tây còn nán lại để tường trình về những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam. Chiếc xe dân sự lọt vào ổ phục kích của Việt Cộng tại Hố Nai và một loạt súng liên thanh dữ dội đã làm người phóng viên chiến trường tài ba và gan lì, từng đạt giải Pulitzer khi còn làm với AP, trở thành người ký giả phương Tây cuối cùng bị tử nạn tại Việt Nam. Không kể hàng triệu sinh mạng của các bên tham chiến cùng những thường dân vô tội, cuộc chiến Việt Nam đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm ký giả được xem là những tinh hoa, tài giỏi nhất mà các hãng thông tấn phương Tây gởi sang Việt Nam. Họ không được biết hay nhắc tới nhiều. Dù sự hy sinh của họ cũng xứng đáng một sự trân trọng để tưởng niệm. Đọc hồi ký "Mẹ Việt Nam ơi! Dân ta có tội tình gì" của ký giả Pierre Darcourt do cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa dịch, ông điểm lại khá nhiều ký giả tài ba đã từng thiệt mạng trên mảnh đất Việt Nam theo sau:

"Ngày 24 tháng 5, lúc 7 giờ sáng, 80 người ngoại quốc rời Miền Nam Việt Nam trên một chiếc phi cơ 4 máy, Illouchine 18 sơn xanh trắng của Liên Xô. Đó là những phóng viên nhiếp ảnh, những ký giả từ khắp nơi trên thế giới đã đến Sài Gòn và bị kẹt lại sau khi thủ đô bị Bắc Việt chiếm cứ. Trong số nầy có gần 50 ký giả Pháp và một tướng lãnh Pháp đã về hưu bị trục xuất khỏi Việt Nam vì lý do “hai bàn tay của ông đã dính đầy máu của nhân dân Việt Nam”(!).

Trước khi được đi, các ký giả nầy đã bị quá nhiều phiền nhiễu về hành chánh mới được tờ chiếu khán xuất cảnh, sau đó phải nằm chờ đợi được ghi tên vào một chuyến bay kéo dài ngày này qua ngày khác… Trước khi lên phi cơ, tất cả đều phải qua một cuộc khám xét, một cuộc khám xét thật tỉ mỉ, thật lâu và rất là lạnh lùng. Các tay bộ đội nhờ một nữ tiếp viên hàng không làm thông dịch viên, đã bóc hết hành lý của họ. Có nhiều xấp thơ và phim ảnh bị tịch thu. Sau đó họ được đưa đến Vạn Tượng (Lào) và phải trả 120 đô la bằng tiền Mỹ hẳn hòi (gấp đôi giá bình thường) và được một chú “bộ đội” đội nón cối và các phi công Việt Nam đeo súng lục hộ tống.

Xuyên qua cửa kính, các ký giả nhìn Tân Sơn Nhứt lần cuối. Hình ảnh sau cùng mà họ cố mang theo từ Việt Nam là cảnh tượng của một phi trường bị tàn phá: nhà kho sập, phi cơ nằm phơi bụng, chiến xa bị cháy đen… Trong số những anh gan lì và đầy tình huynh đệ đi về Pháp chuyến nầy, vắng mặt một anh bạn rất thân: đó là anh Michel Laurent, bị một tràng liên thanh bắn hạ trong trận chiến ở Hố Nai.

Anh là một nhà báo cuối cùng chết ở Đông Dương. Chúng tôi vẫn còn hy vọng đến giây phút cuối cùng là anh sẽ còn sống để trở về. Nhưng bây giờ thì hết mong rồi. Chúng tôi không còn thấy bóng dáng mảnh khảnh, trẻ trung mãi của anh nữa, cũng như gương mặt thiên thần với mớ tóc lòa xòa và một điếu xì gà cắn chặt ở môi. Anh công tử có vẻ uể oải nhưng không lo lắng gì cả nầy thuộc nòi nhà nghề sáng giá. Có cả thảy 52 nhà báo đã chết ở Việt Nam từ năm 1945. 26 anh khác đã coi như mất tích ở Cam Bốt. Phần đông là các nhiếp ảnh viên, những tinh hoa trong nghề… Họ không tường thuật về chiến tranh, mà họ chuyển chiến trận thành hình ảnh, gay cấn, tàn bạo và lâm ly thống thiết. Những hình ảnh nầy các nhiếp ảnh viên thường thu nhặt trong tư thế đứng chụp những người sắp chết và họ thường chứng kiến được cử chỉ và cái nhìn lần cuối cùng của họ. Cho tới khi Thần Chết tức giận vì bị người ta thu hình quá gần, nên đã bắt họ chết luôn vì đã đến lượt của họ rồi… Và đùng một cái những người còn sống sót mới khám phá ra là luôn luôn những anh bị tử thương y như rằng là những người rất giỏi trong nghề. Người đầu tiên mà tôi thấy chết vào ngày 28 tháng chạp năm 1946 là một anh người Bỉ ốm yếu mà tôi quá xấu hổ vì không nhớ được tên, làm việc cho một Thông tấn xã Hoa Kỳ. Anh đến từ Nam Dương, một quốc gia chán chê vì chiến trận, nhưng những trận đánh trong đường phố tuy lẻ tẻ nhưng hung dữ đến dã man trong thành phố Hà Nội đã kích thích anh, như một cuộc đi săn kích thích con chó săn khỏe mạnh vậy. Anh đội một nón sắt quá rộng, đeo choàng chiếc máy ảnh Rolleiflex và một cây súng lục Webley to tướng ở ngang lưng. Anh ta rất là can đảm, can đảm hết nói! Anh ta chạy trên các mái nhà để đi tìm những anh chàng bắn sẻ. Một tay Việt Minh bắn tỉa phục kích đâu đó đã cho anh một phát vào giữa mặt và anh té lộn nhào rớt xuống đất từ trên cao 10 thước.

Còn nhiều người khác, rất nhiều người khác nữa như các anh Burrows, Huet, Shimimoto, Flynn, Arpin…, và cuối cùng là anh Michel Laurent, mình trúng đầy đạn tại một làng Công giáo di cư không đầy hai ngày trước khi Sài Gòn bị thất thủ. Từ anh ký giả nhỏ con người Bỉ đội nón sắt quá rộng bị bắn chết ở thủ đô Hà Nội đến anh Michel Laurent bị giết vì quá gan dạ tại gần một nhà thờ có treo cờ của Tòa Thánh Vatican, nơi mà các nhân dân tự vệ kháng cự đến viên đạn cuối cùng, coi như cuộc chiến ở Đông Dương đã qua rồi.

Các ký giả bị kẹt lại gần ba tuần lễ ở Sài Gòn, cựu thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa, sau khi về đến Pháp đã viết lại và phổ biến tất cả những gì mà họ đã thấy và đã nghe. Bộ máy của chế độ Hà Nội đã được áp đặt thế nào. Cảnh khốn cùng của dân chúng Sài Gòn ra sao. Có những cô gái đã đề nghị trao hết gia tài sự nghiệp để chỉ được cưới và cùng đi ra ngoại quốc vối họ. Trẻ em thì được van xin cho làm con nuôi, dù là giả mạo. Lại còn dịch tự tử nữa. Rồi những tin đồn là có nhiều sự nổi dậy ở các tỉnh, hay thành lập “chiến khu” ở Miền Nam…

Khi tất cả các ký giả đã bị đưa đi hết rồi thì một cái lồng sắt chụp ngay xuống Miền Nam Việt Nam. Muốn có được tin tức, người ta không còn có cách nào khác hơn là phải nghe những bản tin chánh thức được loan đi sau khi bị kiểm duyệt cẩn thận. Phải đợi cho có người đi du lịch trong thời gian sắp tới. Rồi phối kiểm lại tin tức. Rồi phỏng vấn liên tục những người ngoại quốc, những linh mục hay một vài công chức Pháp khi họ hồi hương. Hay những người Hoa Kiều theo đường dây buôn lậu hay theo các tàu đánh cá đến được Thái Lan (họ phải trả trên 30 lượng vàng để được đưa đi). Từ từ, các tin tức đó giúp hé mở được bức màn tre đang bao chặt nước Việt Nam và nhờ vào những chứng cớ cùng những chi tiết sống, người ta mới có thể thiết lập lại được cả một mảng biến cố đã xảy ra trên đất nước này…”. (Hết trích)

Đoạn hồi ký của Pierre Darcourt không chỉ nhắc về Michel Laurent cùng những ký giả phương Tây đã nằm xuống vĩnh viễn khi đang làm nhiệm vụ tại Việt Nam, mà còn cho thấy thoáng qua, vai trò của truyền thông đã bị người cộng sản ngăn cản và bưng bít ra sao sau chiến tranh, một khi trục xuất hết các ký giả nước ngoài.

Trong 20 năm Mỹ can dự vào chiến tranh VN, hầu như tất cả những ký giả đến với Việt Nam là do tình nguyện, từ chính sự chọn lựa của mình, để rồi những hãng thông tấn nổi tiếng đã mất đi những ký giả xông xáo, tài ba và sống chết với nghề. Như ký giả Joe Galloway, người phóng viên chiến trường duy nhất theo chân và tường trinh trận đánh Ia Drang khốc liệt từng được dựng thành phim (We were soldiers), trong một lần trả lời phỏng vấn đã nói rằng, đó là cuộc chiến của thế hệ của họ và họ muốn chứng kiến, tường trình về nó. Họ muốn làm những người săn đạn. Săn những sự khốc liệt của chiến tranh, khói lửa. Như câu chuyện của ký giả Alexander D. Shimkin vậy.

Tốt nghiệp ngành lịch sử học, Alexander là một thanh niên hoạt động cho phong trào dân quyền và trở thành ký giả cho Newsweek, tường thuật về chiến tranh VN thay vì tiếp tục chương trình cao học do đại học Princeton cấp học bổng. Tháng 6 năm 1972, Alexander có mặt tại Trảng Bàng, nơi ký giả Nick Út chụp bức hình Phan Thị Kim Phúc bị bom napalm, thì đầu Tháng 7, Alexander lao vào vùng chiến sự An Lộc, nơi anh đã cứu một người lính VNCH bị thương ra khỏi vùng hỏa lực của Việt Cộng. Chỉ hơn 10 ngày sau, anh lại ra đến Quảng Trị, nơi đang diễn ra chiến sự ác liệt của quân lực VNCH đang chiếm lại cổ thành Quảng Trị. Quả lựu đạn của một tên Việt cộng đã chấm dứt cuộc đời của người ký giả 27 tuổi và thi thể anh tan biến vào cát bụi đâu đó tại vùng đất Quảng Trị xa xăm đối với gia đình anh. Trận tái chiếm cổ thành Quảng Trị còn cướp mất sinh mạng thêm ba ký giả khác, hai ký giả của đài truyền hình ABC và một ký giả UPI.

Vụ thiệt hại lớn nhất của truyền thông phương Tây phải kể đến vụ bốn ký giả bị tử nạn mất xác trong vùng núi đồi Hạ Lào, khi họ theo chân quân đội VNCH trong chiến dịch Lam Sơn vào năm 1971. Đó là những người mà ký giả Pierre Darcourt nhắc tên trong trích đoạn hồi ký bên trên. Larry Burrows, ký giả người Anh của Life Magazine, một trong những ký giả tường trình về chiến tranh VN lâu đời nhất và được xem là giỏi nhất, bắt đầu sang VN từ những năm 1962. Ông theo chân những người lính đến các trận đánh khét tiếng trong chiến sử, những tấm ảnh của ông chụp không chỉ là những tấm ảnh chiến trường riêng rẽ mà là những loạt ký sự ảnh có nội dung, chủ đề. Chiếc trực thăng chở ông cùng và Huet (AP), Kent Potter (UPI) và Keisaburo Shimamoto (Newsweek) cùng toán bảy sĩ quan, binh sĩ VNCH bị bắn hạ (trong số này cũng có một phóng viên quân đội người Việt mà chúng tôi không tìm ra tên), hơn 25 năm sau chiến tranh, người ta mới tìm ra được nơi máy bay này bị rơi, nhờ vào các mảnh máy bay và các phim 33 ly khai quật được. Di ảnh họ được trưng bày và tưởng niệm tại bảo tàng Newseum tại Washington DC. cùng với hàng ngàn phóng viên chiến trường đã “sinh nghề tử nghiệp” từ trước nay. 

Còn rất nhiều ký giả trẻ đã nằm xuống tại Việt Nam chẳng kể hết. Họ thách thức thần chết, cười ngạo với bom đạn. Để rồi, không phải cái chết của họ còn được nhớ đến muôn đời. Mà chính những tấm ảnh của họ là chứng nhân và được nhắc đến mãi mãi. Về những cuộc chiến thảm khốc của nhân loại.

29/4/2017